Xe kéo – Hoài niệm xưa hay dấu ấn một thời nô lệ? – Phần 1

Thời tuổi trẻ, mỗi khi có việc đi đâu phải dùng đến xích lô, ngồi trên nệm ấm, nghĩ đến bác phu xích lô gò mình đạp xe dưới tưng bừng nắng lửa mà không khỏi chạnh lòng. Vậy mà hàng trăm năm trước đây, cha ông chúng ta đã có một thời gian dài làm kiếp “ngựa người”, ôm càng xe chạy lúp xúp dưới lòng đường, còn ngất ngưởng phía sau là “ông Tây”, “bà Đầm” hay thầy thông, thầy ký… Dù muốn dù không, chiếc xe kéo cũng đã hiện diện trong lịch sử dân tộc như dấu ấn của một thời nô lệ, như chứng tích về nỗi hận niềm đau của nhiều thế hệ người Việt Nam chưa hề được hưởng hạnh phúc của đời sống độc lập tự do. Bài viết này như một hồi ức tưởng nhớ về những kiếp đời bất hạnh đó.
Theo những tài liệu hiện có, xe kéo xuất hiện lần đầu tiên tại Nhật Bản vào những năm cuối thập niên 1860 như một phương tiện tự chế dành cho những phú ông không còn đủ sức đi bằng chính đôi chân của mình. Từ cái nôi đó, nó nhanh chóng có mặt tại nhiều nơi như Trung Quốc, Hong Kong, Madagascar, Ấn Độ và vào Việt Nam vào những năm đầu thập kỷ 1880. Tại đây, từ rick-shaw (do những người sử dụng tiếng Anh dùng để gọi chiếc xe kéo) đã được thực dân Pháp chuyển thành pousse-pousse và cũng từ đó, tại Hà Nội và các tỉnh phụ cận hình thành một đội ngũ những công nhân được người Việt gọi là phu kéo xe, còn thực dân Pháp gọi là coolies-pousse.
Nghe đâu việc nhập xe kéo vào Việt Nam là sáng kiến của một viên chức Pháp tên Bonnal, về sau là quyền Thống sứ Bắc Kỳ (1886-1887). Lúc đầu, việc khai thác loại phương tiện chuyên chở này được dành độc quyền cho những người có “máu mặt”, song theo Claude Bourrin, tác giả quyển Le vieux Tonkin 1890-1894 (Xứ Bắc kỳ những năm 1890-1894), tại Hà Nội, độc quyền khai thác xe kéo bị bãi bỏ từ ngày 31.12.1890. Cũng từ ấy, người ta ít thấy những chiếc xe kéo tồi tàn, những bác phu xe ăn mặc nhếch nhác. Thay vào đó là những chiếc xe mới có tên là Les Tonkinois (người Bắc Kỳ), cao ráo, bánh sơn đỏ, thùng xe sơn xanh, có một ô sơn trắng dành để kẻ tên và số đăng ký màu đỏ. Người phu xe cũng ăn mặc quần áo trắng, trông sạch sẽ gọn gàng hơn trước. Xe kéo của những chủ nhân người Hoa thì khác. Bánh xe sơn màu trắng hoặc màu xanh lơ, người phu xe mặc áo cổ màu xanh dương, đỏ hay xanh lục. Những nhà giàu có sắm hẳn một chiếc xe kéo, nuôi luôn người phu xe trong nhà để điều động mỗi khi cần đi đâu. Người ta kể rằng xe của các vị quan to, ngoài người phu xe cắm cúi chạy, còn có một lính hầu chạy theo bên cạnh, tay cầm sẵn xe điếu để khi cần, quan dừng lại bên đường, rít một hơi thuốc. Các bà mệnh phụ cũng thế, nhưng thay vào chỗ điếu cày là tráp đựng trầu cau.
Tại Nam Kỳ, xe kéo xuất hiện chậm hơn, nhưng chỉ sau 5 năm so với Hà Nội, chứ không phải đến 15 năm như có tài liệu đã nhầm. Trong bức thư đề ngày 20.1.1888, một người u tên Fabre xin với viên Đốc lý Sài Gòn (thị trưởng) và Hội đồng thành phố cho được độc quyền khai thác xe kéo tại thành phố. Bức thư cũng cho biết tại thành phố Chợ Lớn, một Hoa kiều vừa được viên Đốc lý cho phép khai thác loại xe mới mẻ này. Tháng 3.1888, Hội đồng thành phố qui định giá cước một cuốc xe là 5 xu, mỗi giờ chạy là 12 xu. Đến tháng 8 năm 1892, một người Nhật tên Tokamath lại được khai thác độc quyền xe kéo trong 4 năm. Từ đó, xe kéo trở thành phương tiện kiếm sống của nhiều người Việt được xếp vào thành phần “cu-li” (coolie: phu, người lao động không có tay nghề). Chiều chiều, các phu xe ra cột cờ Thủ Ngữ, gác càng xe chờ đợi khách hóng mát.
Lê Nguyễn – Kiến Thức Ngày Nay – 10.01.2006

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *